năm Bính Ngọ·Ghi chú № 2
Cha tôi không hỏi
Tết vừa rồi tôi về quê bốn ngày. Cha tôi không hỏi một câu nào về công việc.
Không hỏi tôi đang làm cho công ty nào, dự án ra sao, sếp có khó không. Không hỏi lương tôi có tăng không. Không hỏi bao giờ tôi cưới vợ, dù tôi đã ba mươi tư và cả làng đã hỏi mẹ tôi câu đó từ năm tôi hai mươi tám.
Ông chỉ rót cho tôi một ly trà, đẩy đĩa mứt gừng về phía tôi, rồi ngồi đó nhìn ra sân. Có lúc nói về con chó hàng xóm mới đẻ. Có lúc nói về cây đào năm nay nở muộn. Có lúc không nói gì, chỉ ngồi.
Hồi tôi hai mươi mấy, tôi giận ông vì điều này. Tôi nghĩ ông không quan tâm. Tôi nghĩ ông không hiểu tôi đang làm cái gì ở Sài Gòn, không hiểu cái nghề ngồi gõ máy tính của tôi có gì giá trị, không hiểu vì sao tôi không về quê thường xuyên hơn. Tôi muốn ông hỏi. Tôi muốn được kể. Tôi muốn được công nhận.
Bây giờ thì tôi hiểu khác.
Cha tôi năm nay gần bảy mươi. Ông lớn lên trong một thời mà hỏi nhau “làm gì” có nghĩa là kiểm tra lý lịch. Một thời mà người đàn ông không khoe con, không khoe của, không khoe chữ. Cái thương của ông không đi qua câu hỏi. Nó đi qua ly trà ông rót sẵn trước khi tôi xuống nhà. Đi qua cái áo khoác ông để sẵn trên ghế vì biết sáng quê lạnh. Đi qua việc ông không bao giờ gọi điện trước, nhưng luôn nhấc máy ngay khi tôi gọi.
Có lần, lúc gần khuya ngày mùng hai, tôi đang ngồi ngoài hiên, ông đi ra. Ngồi xuống cạnh tôi. Một lúc lâu ông mới nói, rất khẽ: “Mày ổn không, con.” Không phải câu hỏi. Là một câu nói. Tôi gật đầu. Ông gật theo. Rồi ông đi vào.
Bốn từ. Một đêm. Đủ rồi.
Thế hệ tôi quen một kiểu thương phải nói ra. Kiểu của cha tôi không cần lời, và không yếu hơn vì thế.
Năm nay tôi sẽ về quê nhiều hơn. Không phải để nói chuyện. Chỉ để ngồi cạnh ông uống trà, nhìn ra sân, đợi cây đào nở.
Tôi nghĩ ông sẽ hiểu.